24/09/2009

BIẾN CỐ FATIMA

Phải, 75 năm về trước, Cộng Sản Liên Sô đã bắt đầu với cuộc về nước của Lenin ngày 16-4-1917 (sau 9 năm vận động cách mạng ở hải ngoại từ năm 1908) cầm đầu đảng Bolsheviks (năm 1918 đã đổi tên thành Đảng Cộng Sản) chính thức đi vào giai đoạn Cách Mạng Tháng Mười, để lật đổ Nga hoàng là Czar Nicholas II vào ngày 7-11-1917.

Vâng, cũng 75 năm về trước, một biến cố khác đã xẩy ra thật là trùng hợp và hoàn toàn ăn khớp với sự xuất đầu lộ diện của cộng sản tại Nga Sô. Đó là việc Đức Mẹ hiện ra với ba thiếu nhi ở Fatima nước Bồ Đào Nha sáu lần, từ tháng 5 tới tháng 10 năm 1917, khoảng thời gian ngay giữa cuộc Cách Mạng Vô Sản của Lenin ở Nga Sô (từ tháng 4 đến tháng 11/1917).

Một điều lạ lùng khó có thể chối cãi, có liên hệ đến hai biến cố này, đó là, ngay ngày 13 tháng 7 năm 1917, Đức Mẹ đã tiết lộ cho ba thiếu nhi Fatima là em gái Giaxinta, 7 tuổi, em trai Phanxicô, anh ruột của Giaxinta, 9 tuổi, và em gái Lucia, chị họ của cả Phanxicô và Giaxinta, 10 tuổi, ba điều Bí Mật. Điều Bí Mật thứ nhất, theo nội dung, liên quan đến số phận đời đời của chung các linh hồn. Điều Bí Mật thứ hai, liên quan trực tiếp đến Nước Nga. Và, điều Bí Mật thứ ba, dù chưa được Đức Thánh Cha tiết lộ từ năm 1960, theo đa số các học giả về Sự Lạ Fatima, có liên quan đến riêng vận mệnh của Giáo Hội.

Về điều Bí Mật Fatima thứ hai, Đức Mẹ đã tỏ cho ba thiếu nhi Fatima biết như thế này:

“...Chiến tranh sẽ chấm dứt, nhưng nếu con người không thôi xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến khốc liệt hơn nữa sẽ bùng nổ vào thời Đức Piô XI. Khi các con thấy trong đêm tối xuất hiện một ánh sáng lạ, các con hãy biết rằng, đó là dấu hiệu rõ ràng Thiên Chúa tỏ cho chúng con thấy rằng Ngài sắp sửa trừng trị thế giới vì tội lỗi của họ, bằng chiến tranh, đói kém, bắt bớ Giáo Hội và Đức Thánh Cha. Để tránh khỏi điều này, Mẹ sẽ đến để xin hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ và xin rước lễ đền tạ vào các Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng. Nếu yêu cầu của Mẹ được thực hiện, Nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình; bằng không, Nước Nga sẽ reo giắc lầm lạc trên khắp thế giới, gây chiến tranh và bắt bớ Giáo Hội. Kẻ lành sẽ tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ chịu nhiều đau khổ, một số quốc gia sẽ bị tiêu diệt. Cuối cùng, Trái

Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng hiến Nước Nga cho Mẹ, Nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ được hưởng một thời gian hòa bình...”

Phần Bí Mật thứ hai trên đây được chị Lucia viết ra trong phần Hồi Niệm thứ ba và thứ bốn. Tất cả những gì chị Lucia viết ra, hoàn toàn vì vâng lời Giám Mục Silva cai quản địa phận Leiria-Fatima, gồm có 4 phần, được gọi là Những Hồi Niệm (Memoirs):

Phần Hồi Niệm thứ nhất, nội dung về Giaxinta, được chị bắt đầu viết vào tuần thứ hai của tháng 12 năm 1935 và hoàn tất vào ngày 25/12/1935, lễ Chúa Giáng Sinh. Phần Hồi Niệm thứ hai, nội dung về chính mình, chị

Lucia bắt đầu viết vào ngày 7-11-1937 và hoàn tất vào ngày 21-11-1937, lễ Đức Mẹ Dâng Mình Vào Đền

Thánh. Phần Hồi Niệm thứ ba, ngắn nhất, nội dung về Giaxinta (thêm cho đầy đủ) và về hai bí mật đầu, được chị viết ngay sau khi nhận được thơ của đức giám mục da Silva ngày 26-7-1941 và hoàn tất ngày 31-8-1941. Phần Hồi Niệm thứ bốn, dài nhất, nội dung về Phanxicô, về Giaxinta (nếu còn sót điều gì), về thị kiến Thiên Thần và Đức Mẹ hiện ra, được chị viết ra sau khi được lệnh đức giám mục da Silva ngày 7-10-1941 và hoàn tất phần nhất ngày 25-11-1941 và phần hai ngày 8-12-1941, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Như thế, Bí Mật Fatima thứ hai, liên quan trực tiếp đến Nước Nga, như một lời tiên tri về tất cả những việc làm của Nước Nga và cuộc trở lại của Nước Nga, đã được tỏ cho thế giới biết, qua giáo quyền địa phương là đức giám mục da Silva, khi chị Lucia viết ra và gửi cho ngài. Theo lịch sử diễn tiến từ ngày Đức Mẹ hiện ra ở Fatima và tiết lộ cho loài người, qua ba thiếu nhi Fatima, biết bí mật của Mẹ, cách riêng bí mật thứ hai, thì mọi sự đã xẩy ra hoàn toàn ứng nghiệm với lời tiên tri của Mẹ. Những chứng tích lịch sử đó là:

“Chiến tranh sẽ chấm dứt":

Đại chiến thứ nhất bắt đầu bùng nổ từ ngày 28/6/1914 khi Francis Ferdinand, ông hoàng của nước Áo bị ám sát tại thủ đô Sarajevo, và đã chấm dứt ngày 11/11/1918 khi nước Đức ký đầu hàng đồng minh. Vào thời điểm Đức Mẹ nói “chiến tranh sẽ chấm dứt” là ngày 13-7-1917, thì Hoa Kỳ đã chính thức tuyên chiến với Đức ngày 6-4-1917 và mới bắt đầu đổ quân xuống Pháp ngày 24-6- 1917 để tiếp tay với các nước Âu Châu dập tắt lực lượng đơn thân độc mã khiêu chiến và chiến đấu của Đức quốc.

“Một cuộc chiến khốc liệt hơn nữa sẽ bùng nổ vào thời Đức Giáo Hoàng Piô XI":

Đại Chiến thứ hai quả nhiên đã chính thức xẩy ra vào ngày 1-9-1939 khi quân Đức xâm chiếm Ba-Lan, để rồi kết thúc, tại Âu Châu ngày 7/5/1945 khi Đức đầu hàng đồng minh vô điều kiện ở Reims nước Pháp, và tại Á Châu ngày 2-9-1945 khi Nhật ký đầu hàng Mỹ trên chiến hạm U.S.S.Missouri tại vịnh Tokyo. Hậu quả của cuộc Đại Chiến thứ hai này đúng là “khốc liệt hơn” Đại Chiến thứ nhất. Ở chỗ, trong khi Đại Chiến thứ nhất mất có 10 triệu mạng người lính, trong đó Pháp chiếm 1 triệu 1/3, Đức và Nga mỗi nước mất 1 triệu 3/4, thì Đại Chiến thứ hai thủ tiêu mất 17 triệu mạng người tham chiến, trong đó, có 7 triệu rưỡi của Nga, 3 triệu rưỡi của Đức và 1 triệu 1/4 của Nhật, cộng với 20 triệu mạng thường dân của Nga và 10 triệu mạng thường dân của Tầu. Cuộc Đại Chiến thứ hai này cũng đúng là “bùng nổ vào thời Đức Giáo Hoàng Piô XI”.

Đúng vậy, trước khi Đức Thánh Cha Piô XI băng hà ngày 10-2-1939, Đại Chiến thứ hai đã bắt đầu xẩy ra, trước tiên là Ý xâm chiếm Ethiopia năm 1935 và hoàn toàn khống chế nước này vào tháng 5/1936, sau đó là Nhật tấn công Trung Hoa vào năm 1937 và chiếm gần hết phần đất phía đông của Trung Hoa vào cuối năm 1938, sau cùng là Đức tiến vào nước Áo tháng 3 năm 1938 và sát nhập nước này với Đức quốc. Theo chị Lucia, “việc xâm chiếm Áo quốc là khơi mào cho chiến tranh. Khi Hoà Ước Munich được ký kết (ngày 29-30/9/1938, giữa Chamberlain, Hitler, Mussolini và Daladier công nhận Sudetenland là phần đất biên giới ở phía bắc của nước Czechoslovakia thuộc về Nazi Đức Quốc Xã), các dì (dòng thánh Đôrôthêô của chị) vui mừng vì họ nghĩ là hòa bình đã được vãn hồi. Tiếc thay, tôi lại biết rõ hơn các dì ấy nữa” (MOCC:XIV)

“Trong đêm tối xuất hiện một ánh sáng lạ...dấu hiệu Thiên Chúa sắp trừng phạt thế giới":

Tờ Le Nouvelliste de Lyons, ra ngày 26/1/1938 ở Pháp, đã viết về đêm 25 rạng 26/1/1938 theo nhận xét của ông Jean Dufay, giám đốc quan sát viện Saint-Genis-Laval, kiêm giảng sư khoa học Lyon, như sau:

“Quang cảnh mà chúng ta vừa chứng kiến rất lạ lùng. Đó là một vầng ánh sáng Bắc phương ở một cao độ khá, một hiện tượng rất hiếm đối với vĩ tuyến của chúng ta, hiếm có vào lúc này vì những luồng dưỡng khí và phát xạ đạm khí của một tổng hợp quang phổ kỳ diệu. Vầng ánh sáng bắc phương này luôn luôn liên hệ đến một vùng tròn mầu sắc vào một lúc nào đó băng ngang qua kinh tuyến chính của mặt trời. Những hiện tượng này xuất hiện trên trời bình thường xẩy ra khoảng 48 tiếng đồng hồ sau khi vùng tròn mầu sắc này qua đi. Mà, theo sự khảo sát của chúng ta về mặt trời mấy hôm vừa qua cho phép chúng ta nói được rằng đã không có một bóng mờ nào băng ngang qua thái dương. Điều đó càng chứng tỏ về sự lạ lùng của hiện tượng này vì thiếu nguyên nhân gây ra nó” (TWTAFII:705).

Theo chị Lucia, “vầng ánh sáng bắc phương” này chính là “dấu hiệu Thiên Chúa sắp trừng phạt thế giới” như

Đức Mẹ báo trước. Cuộc xâm chiếm của Đức đối với Áo quốc vào tháng 3 ngay sau đó không phải là khai mào cho việc Thiên Chúa trừng phạt thế giới “vì tội lỗi của họ” hay sao?

“Mẹ sẽ đến để xin dâng hiến Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ và xin rước lễ đền tạ vào các Thứ Bảy Đầu Tháng":

Mẹ Maria đã giữ đúng lời hứa này khi hiện ra với chị Lucia hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 10/12/1925 tại Pontevedra nước Tây ban Nha, trong một tu viện của dòng thánh Đôrôthêô mà chị bấy giờ là một tập sinh,

Đức Mẹ hiện ra với chị cùng với Chúa Hài Nhi và nói với chị những lời sau đây:

“Hỡi con gái của Mẹ, hãy nhìn vào Trái Tim của Mẹ bị gai nhọn quấn quanh do các con người vô ơn bội bạc gây ra mỗi khi họ phạm thượng và vong ân. Ít là phần con hãy cố gắng ủi an Mẹ và này Mẹ hứa sẽ phù hộ trong giờ lâm chung bằng những ơn cần thiết cho những ai Năm Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng liền xưng tội, rước lễ, lần năm chục kinh Mân Côi, và dùng mười năm phút suy về 15 mầu nhiệm Mân Côi, với ý đền tạ Mẹ” (FILOW:195).

Lần thứ hai vào ngày 13/6/1929 tại Tuy nước Tây Ban Nha, trong nhà nguyện dòng của chị, Đức Mẹ tay cầm Trái Tim hiện ra với chị ở thế đứng bên phải Thánh Giá bằng ánh sáng có những giọt máu từ mặt và cạnh sườn của Chúa Kitô chịu đóng đanh nhỏ xuống bánh thánh và chén thánh ở bên dưới cạnh sườn của Chúa, và Đức Mẹ nói với chị những lời sau đây:

“Đã đến lúc Thiên Chúa muốn xin Đức Thánh Cha hợp cùng với tất cả các giám mục trên thế giới để hiến dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, Ngài hứa cứu nước Nga” (FILOW:200)

“Nếu yêu cầu của Mẹ được thực hiện, Nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình; bằng không Nước Nga sẽ gieo rắc lầm lạc trên khắp thế giới, gây chiến tranh và bắt bớ Giáo Hội. Kẻ lành sẽ tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ chịu nhiều đau khổ, một số quốc gia sẽ bị tiêu diệt":

Theo Bí Mật thứ hai mà Đức Mẹ tỏ ra cho ba Thiếu Nhi Fatima vào ngày 13-7-1917 này thì Đức Mẹ chỉ “yêu cầu”hai điều. Một là “”dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ”, hai là “rước lễ đền tạ các Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng”. Tuy nhiên, vào lần hiện ra với chị Lucia tại Tuy ngày 13/6/1929, theo lời của Mẹ, thì chỉ còn lại một “yêu Cầu” duy nhất. Đó là nếu Đức Thánh Cha hợp với toàn thể các đức giám mục trên thế giới hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ thì Nước Nga sẽ được cứu.

Tất cả diễn tiến việc thực hiện điều “yêu cầu” duy nhất này của Đức Mẹ, cũng là diễn tiến việc “Nước Nga sẽ được cứu" ở trong chương kế tiếp, "Đáp Ứng Yêu Cầu".

0 nhận xét:

Đăng nhận xét